jobBox
Cẩm nang nghề nghiệp

Trợ cấp khi công ty giải thể

Article Image

Người lao động sẽ được hưởng trợ cấp mất việc nếu đã làm việc liên tục cho doanh nghiệp từ 12 tháng trở lên. Mức trợ cấp là một tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng lương.

Các quy định về trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc đã được quy định trong Bộ luật Lao động 2012. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp sẽ phải trả một trong hai khoản trợ cấp cho người lao động, cụ thể như sau:

Trợ cấp mất việc: Theo Điều 44 của Bộ luật Lao động, khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, gây ảnh hưởng đến việc làm của nhiều lao động, hoặc vì lý do kinh tế mà nhiều lao động có nguy cơ mất việc mà không thể bố trí công việc mới, doanh nghiệp phải chi trả trợ cấp mất việc. Điều kiện để được hưởng trợ cấp là người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp ít nhất 12 tháng liên tục. Mức trợ cấp là một tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng lương.

Trợ cấp thôi việc: Theo Điều 48, khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp sau, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc liên tục từ đủ 12 tháng trở lên, với mức trợ cấp là nửa tháng lương cho mỗi năm làm việc:

Hết hạn hợp đồng lao động.

Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc theo hợp đồng lao động theo quyết định của tòa án.

Người lao động qua đời, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

Người sử dụng lao động là cá nhân qua đời, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết; hoặc nếu người sử dụng lao động không phải cá nhân mà chấm dứt hoạt động.

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Lao động.

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động; hoặc cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế, hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp.

Vì vậy, khi doanh nghiệp giải thể, người lao động sẽ được hưởng loại trợ cấp tương ứng với tình trạng của mình. Ví dụ: nếu tại thời điểm giải thể hợp đồng lao động của anh A hết hạn, anh A chỉ nhận được trợ cấp thôi việc, không được trợ cấp mất việc. Trong khi đó, nếu hợp đồng của anh B vẫn còn hiệu lực (hoặc thuộc một trong những trường hợp theo Điều 48), anh B sẽ nhận trợ cấp mất việc, nhưng không được trợ cấp thôi việc.

Về việc giải thể doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp mới:

Theo Luật Doanh nghiệp, khi doanh nghiệp chuyển đổi sang loại hình khác, doanh nghiệp mới sẽ phải kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũ. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc chuyển từ công ty cổ phần sang công ty TNHH không phải là chuyển đổi doanh nghiệp, mà là thành lập một pháp nhân mới. Công ty TNHH này không có nghĩa vụ kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty cổ phần.

Do đó, khi công ty cổ phần giải thể và thành lập công ty TNHH mới, công ty cổ phần phải thanh toán các khoản trợ cấp (mất việc hoặc thôi việc) cho người lao động. Đồng thời, giữa người lao động và công ty TNHH mới sẽ ký kết hợp đồng lao động mới, không liên quan đến hợp đồng lao động đã ký với công ty cổ phần trước đó.

Bình luận

Chưa có bình luận nào

Từ khóa nổi bật

joxBox

Luôn nhận thông tin mới nhất
Từ chúng tôi

joxBox